Thứ tư, 28/9/2005 | 09:35 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ | Print
Thứ tư, 28/9/2005 | 09:35 GMT+7

Những kiệt tác nằm trong di cảo

Đầu năm nay, lại xảy ra một trường hợp tương tự cho một tiểu thuyết gia quá cố khác, là nhà văn lừng lẫy vào những thập niên 1950-1960 thế kỷ trước Pierre Boulle (1912-1994). "Vụ" này có phần nào còn dị thường hơn nữa, như chính cuộc đời của đương sự.

Trần Thiện Đạo - 

Vào mùa tiểu thuyết nở rộ cuối thu năm ngoái, giới nghiên cứu và phê bình văn học Pháp lấy làm sửng sốt khi Ban giám khảo Renaudot, một trong mấy giải văn học lớn, bất ngờ trao tặng giải hằng năm của mình cho một di cảo: cuốn Suite française (Chuyện kể tiếp ở Pháp - NXB Denoel, 2004) của nhà văn nữ Irène Némirovsky (1903-1942), người đã khuất bóng hơn sáu chục năm trời[ 1]. Di cảo này do cô con gái của tác giả phát hiện hai năm trước đó, gói gọn trong một chiếc rương bằng mây mỏng mảnh bỏ xó bấy lâu dưới hầm nhà.

Rương thuộc địa

Di cảo vừa phát hành của nhà văn nói trên, lần này, cũng được con gái của ông (tuy là con nuôi, nhưng vẫn là con gái - nữ giới bản tánh tò mò hơn nam giới chăng?) là bà Christiane Loriot phát hiện một cách quả tình kỳ lạ, như bà kể lại sau đây:

"Hôm đó, tôi với chồng tôi là ông Jean Loriot, giáo sư Đại học Y ở Montpellier, dắt nhau xuống hầm nhà tìm một vật gì. Bỗng để ý thấy chiếc rương đựng bản thảo của cha nuôi tôi nhện giăng tứ phía, bụi bặm phủ đầy. Liền ra công quét dọn, rồi mở nắp kiểm tra phía trong. Lật sau lưng các bản thảo đánh máy lại thấy trang nào cũng có chữ viết tay nguệch ngoạc, lu mờ khó đọc. Bèn lôi cả lên trên nhà để xem xét kỹ hơn...".

Đây là loại hòm gỗ rắn chắc, to lớn, nặng nề mà người Pháp gọi là malle coloniale (rương thuộc địa), chứng tỏ rằng chủ nhân của nó một thời đã bay nhảy, sanh sống ở các nước thuộc địa cũ.

Hơn nửa thế kỷ trước, máy tính điện tử chưa phổ biến, các nhà văn hoặc viết tay trên giấy thường, hoặc đánh máy trên giấy pelure mỏng dính nhàu nhòe. Bản thảo của Pierre Boulle thảy đều được đánh trên giấy pelure, nên chữ viết tay bằng mực sau lưng khi rõ khi mờ. Hai người con nuôi, con rể phải cố công ủi thẳng từng trang mới đọc được và, may thay, không sai sót một đoạn hay một chữ nào.

Sau lưng các trang bản thảo đánh máy truyện Contes de l’absurde (Chuyện phi lý - xuất bản năm 1953), bất ngờ thay, là di cảo viết tay còn nằm trong bào thai, chưa hề ra đời. Nay tình cờ nhờ bàn tay của cô con gái, mới lọt lòng dưới tựa đề có phần nào hư ảo là L’Archéologue et le mystère de Néfertiti (Nhà khảo cổ và bí mật về hoàng hậu Nêfertiti - NXB Le Cherche-Midi, 2005).

Nội dung 

Câu chuyện xảy ra hơn ba thiên niên kỷ trước, vào thời vua Amênôphix đệ tứ (hay Akhênatông,1372-1354 trước công nguyên) ngự trị ở Ai Cập. Nhà vua có xu hướng thần bí này muốn thiết lập (Akhên) Atông làm thần linh duy nhất. Ngài luôn được hoàng hậu Nêfertiti nổi tiếng có sắc đẹp tuyệt trần, một hai nghiêng nước nghiêng thành chẳng thua gì nàng Kiều của chúng ta, hỗ trợ và đôn đốc.Vậy mà công cuộc cải tổ của ngài cũng không được quần thần triệt để ủng hộ, cuối cùng hóa ra trì trệ rồi bỏ dở nửa chừng khi ngài băng hà.

Phải đợi tới ngày nay mới có hai nhà thám hiểm, hay đúng hơn, hai nhà thám tử do một tiểu thuyết gia đương đại đặc phái qua Ai Cập cổ sơ mà ngược thời gian bí mật điều tra, thu thập mọi dấu vết, mọi tín hiệu cho phép họ giúp nhà chức trách sở tại làm sáng tỏ nội việc.

Lợi dụng thời cơ máy bay bất thần gãy cánh rơi xuống sa mạc, nhà khảo cổ danh tiếng Hồng mao và một du khách mạo hiểm Pháp còn sống sót lẻn vô một đền thờ hẻo lánh trong nội thành Akhênatông. Lục lọi thấy trong đền có vô số cạm bẫy thứ nào cũng rất mực tinh vi cài khắp mọi xó xỉnh và biết bao bồ xương khô dáng dấp ẻo lả hệt như công chúa thoát trần, hay phương phi lẫm liệt như của kẻ tài cao chí lớn, hai nhà điều tra nghiệp dư của chúng ta nghiễm nhiên trở thành những nhà thám tử chuyên nghiệp ít ai bì kịp. Từ những chi tiết nhỏ nhoi, họ biết diễn dịch một cách tinh vi và chính xác chẳng thua gì các bậc tiền bối của họ, Sherlock Holmes, Arsène Lupin, Hercule Poirot hay Maigret chẳng hạn[ 2], tất nhiên dẫn họ đến một thảm kịch không ai ngờ do một cuộc phản loạn trong cung gây nên hơn ba nghìn năm trước...

Thân thế

Vào thập niên 50 thế kỷ trước, cuộn phim Le Pont de la rivière Kwai (Con cầu bắc ngang sông Vị) do đạo diễn David Lean quay, đã cùng lúc đoạt bảy giải Oscar và, dĩ nhiên, ăn khách nhất bấy giờ. Truyện được chuyển thể từ kiệt tác cùng tên xuất bản năm 1952 của Pierre Boulle, kể chuyện tù binh da trắng bị quân đội Nhật bắt nhốt ở Myanmar thời Thế chiến thứ II, đã đập phá con cầu để vượt ngục. Trần Văn Khê thủ vai một quản giáo trong trại. Truyện dựa trên kinh nghiệm thực tế của tác giả.

Trước đó, Pierre Boulle đã một thời lập vườn trồng cao su ở Myanmar, rồi chu du khắp miền Đông Nam Á. Khi Thế chiến thứ II bùng nổ, ông theo phe Kháng chiến, bị Thống đốc Đông Dương bấy giờ là Jean Decoux (1894-1953) bắt vô ngồi tù ở Hà Nội cho đến ngày chiến tranh chấm dứt. Trở về Pháp, khởi đầu sự nghiệp văn chương của mình, trên dưới 15 tác phẩm đã in và, ngoài di cảo vừa phát hành, chắc còn một số khác nữa viết tay sau lưng các trang bản thảo đánh máy mà con gái nuôi của ông vừa cho biết là đã được phát hiện nhưng chưa tiết lộ nội dung.

Chắc rồi Pierre Boulle cũng sẽ tái sinh trên văn đàn như hệt Irène Némirovsky mà tác phẩm ngay lúc này đang được các nhà xuất bản lần lượt in lại và được độc giả đón chào nồng nhiệt, nghĩa là bán rất chạy.

Paris, 25/7/2005

Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Email cho bạn bè
 
 
Giọng điệu châm biếm, hài hước và phong cách "khẩu văn" - viết như nói - giúp Nguyễn Quang Lập rút ngắn khoảng cách giữa độc giả và tác giả.
Con người ta cần phải biết học cách đối mặt với cái chết, và làm nhiều điều ý nghĩa hơn cho cuộc sống, cho cộng đồng trước khi nhắm mắt xuôi tay.