Thứ tư, 29/9/2004 | 10:23 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ | Print
Thứ tư, 29/9/2004 | 10:23 GMT+7

Hoài Thanh cũng 'đạo văn'? Hay là ông Lại Nguyên Ân 'trông gà hóa cuốc'?

Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều trước 1945 vốn ở trong nhóm Phương Đông. Ba chàng “ngự lâm pháo thủ” này của văn học cùng một quan điểm xã hội và cùng quan điểm học thuật, đã có lúc ba là một, một là ba.

Trần Mạnh Hảo - 

eVăn: Dư luận văn nghệ đang xôn xao về vụ Hoài Thanh "đạo văn" (?), nguyên xuất xứ từ một bài viết của nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân trên tạp chí Thế Giới Mới, ngày 13/9/2004. Để bạn đọc có thông tin về "sự kiện" này, chúng tôi giới thiệu lại bài viết của ông Lại Nguyên Ân và những bài có liên quan.

Dưới đây là bài viết của ông Trần Mạnh Hảo trên Thế Giới Mới, ngày 27/9/2004.

Lời tòa soạn Thế Giới Mới: Thế Giới Mới số 602 đề ngày 13/9/2004 có in bài Hoài Thanh cũng “đạo văn”? (xin lưu ý, có dấu ngoặc kép ở từ “đạo văn”, có dấu chấm hỏi nơi cuối nhan đề). Bài báo được bạn đọc chú ý, nhiều thư từ bài vở gửi về nhằm định nghĩa rõ từ “đạo văn”, đồng thời tìm cách trả lời câu hỏi nghi vấn mà bài báo của nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân đặt ra. Thế Giới Mới giới thiệu dưới đây bài viết của một nhà thơ và một nhà nghiên cứu văn học về vấn đề này.

Tạp chí Thế Giới Mới số 602 có in bài Hoài Thanh cũng “đạo văn”? của Lại Nguyên Ân phê bình Hoài Thanh “đạo văn”, nghĩa là, tác giả Thi nhân Việt Nam nổi tiếng, theo ông Ân, đã “... Lấy cả ý tưởng (= nhận định) lẫn cấu tứ (= cấu tạo câu văn) của Lê Tràng Kiều; tất nhiên, lấy một cách có sửa đổi, hiệu chỉnh, nhưng rõ ràng đã không thông tin về hành vi “lấy” đó, đã không hề ghi chú, không hề đặt trong ngoặc kép hay ngoặc đơn, đã mặc nhiên để người đọc từ đó đến nay (trên 60 năm!) đinh ninh tin rằng đó là sản phẩm tư tưởng và ngôn ngữ duy nhất của mình...”.

Đây là câu văn mà theo Lại Nguyên Ân, Hoài Thanh đã “đạo” của Lê Tràng Kiều: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu” (Hoài Thanh - Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam 1932-1941, NXB Văn học, Hà Nội, 1988, tr. 33-34).

Còn đây là câu văn của Lê Tràng Kiều theo Lại Nguyên Ân bị Hoài Thanh “đạo”: “Ba năm qua... Với thi ca, văn học ta đã bước được một bước dài. Một sự may mắn không ngờ! Chỉ trong vòng ba năm mà lần lượt đua nhau xuất hiện ra không biết bao nhiêu tác phẩm có giá trị mà trong cái dĩ vãng rất bằng phẳng mấy ngàn năm chỉ lơ thơ một vài cái. Từ bao giờ đến bây giờ, người ta đã có mấy lần, một tâm hồn

  - hùng tráng như Huy Thông

  - dồi dào như Thế Lữ

  - huyền diệu như Thái Can

  - âm thầm như Đông Hồ

  - mơ màng như Leiba

  - buồn não như Nguyễn Vỹ

  - và một tâm hồn đầy âm nhạc, đầy mộng ảnh như Lưu Trọng Lư???!”

Ba năm đã qua... Mà như một thế kỷ đã qua!” (Lê Tràng Kiều: Thơ Mới, Hà Nội báo, số 14, 8 april 1936, tr.2).

1. Giả sử “phát hiện” động trời này của Lại Nguyên Ân đúng, nghĩa là Hoài Thanh đã “đạo” một câu văn của Lê Tràng Kiều!

Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều trước 1945 vốn ở trong nhóm Phương Đông. Ba chàng “ngự lâm pháo thủ” này của văn học cùng một quan điểm xã hội và cùng quan điểm học thuật, đã có lúc ba là một, một là ba. Bằng chứng là năm 1936, nghĩa là năm Lê Tràng Kiều viết câu văn trên, ba vị này đã in chung một cuốn sách có tên Văn chương và hành động dưới nhãn hiệu NXB Phương Đông, in 2.000 bản. Nhưng cuốn sách đầy quan điểm xã hội và học thuật tiến bộ, lại rất cách mạng này đã bị nhà cầm quyền Pháp tịch thu, không cho phát hành. Sau hơn 60 năm thất lạc, gia đình nhà văn Hoài Thanh đã tìm lại được cuốn sách này trong một thư viện quốc gia của nước Pháp. Văn chương và hành động được NXB Hội Nhà văn in lại năm 1999. Cái độc đáo của cuốn sách là do một mình Hoài Thanh viết mà lại ký thêm tên của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều vào cho đủ “bộ tam - Đông Phương”. Nghĩa là Hoài Thanh thay mặt hai người bạn thân, đã viết cả 11 bài trong Văn chương và hành động rồi ký tên chung ba người (trừ phần Phụ lục có in hai bài dịch của Lưu Trọng Lư).

Bằng chứng là năm 1939, Hoài Thanh cho in trên Tao Đàn số 7/1939 một bài rút từ cuốn sách ký tên ba người, nhưng nay chỉ ký tên mình Hoài Thanh: Ý nghĩa và công dụng của văn chương; cũng như vậy, bài Nhà văn hoàn toàn từng ký tên ba người trong sách in năm 1936, nay chỉ ký tên mình Hoài Thanh trên Tao Đàn số 3/1939; trường hợp tương tự là bài Thành thực và tự do trong văn chương in trên Tao Đàn 6-1939 và bài Nội dung và hình thức in trên Tao Đàn 6/1939... Xin quý vị đọc ý kiến của phó giáo sư - tiến sĩ văn học Nguyễn Ngọc Thiện, trưởng nhóm biên soạn Văn chương và hành động (NXB Hội Nhà văn in năm 1999) ở cuối sách như sau: “Lê Tràng Kiều tuy không tham gia viết và dịch, nhưng ông cũng có đóng góp trong quá trình thảo luận hình thành ý tưởng của tuyên ngôn, để sau đó Hoài Thanh được ủy quyền, đã thể hiện khá thành công bằng câu chữ trên các bài vở. Đặc biệt ông còn tham gia thúc đẩy việc in sách. Như vậy, có thể nói một cách khác rằng, sách này do Hoài Thanh chủ biên và chấp bút với sự cộng tác của Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư. Hoài Thanh là đại diện có thẩm quyền cao nhất đối với bản quyền bài vở trong sách. Khi còn sống, như trên đã nói, Hoài Thanh đã từng xác nhận đó là “một quyển sách của tôi”, và ông không ngần ngại ghi tên sách vào danh mục tác phẩm của ông với ghi chú về sự đồng tham gia của hai người bạn. Lưu Trọng Lư có lẽ cũng tán thành như vậy, ông đã không có ý kiến gì thêm và cũng không ghi tên tác phẩm đó vào danh mục chính của văn nghiệp của ông”.

Đưa ra chuyện này, chúng tôi muốn ông Lại Nguyên Ân khi xét đoán và kết luận một điều gì đó, ví như chuyện ông cho Hoài Thanh “đạo văn”, thì cần phải xét vấn đề trong tính toàn thể của nó, xem cái cục bộ kia có hợp với cả hệ thống hay không? Mặt khác, chúng tôi cũng nhằm đi đến một khẳng định rất quan trọng rằng: tính Hoài Thanh xưa nay chỉ quen “cho”, quen “tặng” chứ tuyệt nhiên không hề muốn “xin”, chứ chưa nói gì đến tiếng xấu mà Lại Nguyên Ân “gieo” cho ông là “đạo văn”! Tức là, ở đây, năm 1936 Hoài Thanh và Lê Tràng Kiều, ngoài sự thân nhau như ruột thịt, còn gần như hoàn toàn thống nhất với nhau về mọi quan niệm chính trị xã hội cũng như quan niệm thẩm mỹ văn chương. Hai ông đã bàn bạc kỹ lưỡng với nhau hầu hết mọi điều và có thể ủy thác cho mình Hoài Thanh viết thay Lê Tràng Kiều 11 bài báo mang tính tuyên ngôn là cuốn sách Văn chương và hành động. Cũng trong dịp Hoài Thanh viết cả cuốn sách để ký tên mình và hai người bạn thân kia, Lê Tràng Kiều công bố một loạt bài báo về Thơ Mới trên Hà Nội báo là tờ báo ông làm chủ biên (cùng lúc Lê Tràng Kiều còn làm chủ biên tờ Văn học tạp chí). Theo kiểu Văn chương và hành động trên, chúng ta có thể nói rằng, những quan điểm thẩm mỹ của Lê Tràng Kiều trong 8 bài báo viết về Thơ Mới chắc chắn có phần đóng góp ý kiến không nhỏ của Hoài Thanh; hay biết đâu, Lê Tràng Kiều viết xong lại chẳng đã đưa cho Hoài Thanh đọc và sửa lại; hoặc vẫn có khả năng trong 8 bài viết về Thơ Mới của Lê Tràng Kiều, biết đâu, Hoài Thanh chẳng viết “giúp” 3 hoặc 4 bài? Cả một cuốn sách quan trọng do Hoài Thanh viết còn dám đưa tên Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư vào làm đồng tác giả, thì thử hỏi, giả sử một câu văn của Lê Tràng Kiều có lọt vào giữa một đoạn văn của Hoài Thanh có mấy từ, mà sao ông Lại Nguyên Ân, một nhà nghiên cứu văn học chuyên nghiệp, lại không có một cái nhìn khoa học, một cái tâm, để biết rằng đây là việc “không có gì mà ầm ĩ”, đến nỗi viết hẳn một bài báo để hô hoán lên rằng Hoài Thanh “đạo văn”!? Lại Nguyên Ân, người làm nghề vạch lá tìm sâu trong văn học, chợt thành “một nhà sâu học”, huýt còi Hoài Thanh bằng những dòng như sau: “Sự phạm lỗi trong nghề cầm bút cũng có khía cạnh thông thường như chuyện vi phạm luật giao thông vậy. Có lỗi thì phải bị bắt lỗi, phải bị phạt ở mức thích đáng, dù là ai. Nhưng chịu phạt rồi, thì lại được sống và làm việc như thường”...

d

Trang bìa 1 của bản in lần đầu cuốn "Văn-chương và hành-động" - thay lời tuyên-ngôn của văn-phái PHƯƠNG-ĐÔNG, năm 1936, Nxb. Phương Đông, Hà Nội (có dấu lưu trữ của Thư viện quốc gia Château de Sablé, Pháp).

2. Hoài Thanh không hề “đạo văn”, mà chính là Lại Nguyên Ân đã vô cớ xúc phạm Hoài Thanh

So sánh hai câu văn, một của Hoài Thanh và một của Lê Tràng Kiều trích lại trên, chúng tôi thấy sự giống nhau chỉ có một cụm từ: hùng tráng như Huy Thông. Phạm Huy Thông, tác giả của anh hùng ca (có khi cũng gọi là tráng ca): Tiếng địch sông Ô, là tập trường ca viết về trận đánh cuối cùng của Hạng Vũ với Lưu Bang, do tiếng sáo thần Trương Lương mà làm tan rã hết quân Sở. Hùng tráng là tính chất của Tiếng địch sông Ô; giống như đỏ là tính chất của hoa phượng, tím là tính chất của hoa bằng lăng. Ai ai khi đọc Tiếng địch sông Ô của Huy Thông cũng thấy nó hùng tráng. Bảo tác phẩm này của Huy Thông hùng tráng không phải là đặc quyền của Lê Tràng Kiều. Cho nên khi Hoài Thanh bảo hùng tráng như Huy Thông, hay bất kỳ ai viết như thế, cũng đều không phải là “đạo văn” Lê Tràng Kiều.

Xin mách cho Lại Nguyên Ân là có một người tên Hán Quỳ, trong bài Những thi sĩ có tài in trên báo Tràng An số 108, ra ngày 24-3-1936, nghĩa là in ra trước bài của Lê Tràng Kiều 12 ngày (bài Lê Tràng Kiều in ngày 8-4-1936 trên Hà Nội báo), đã bảo Phạm Huy Thông là “nhà thơ HÙNG TRÁNG” như sau: “Ông Lê Tràng Kiều đã ví Huy Thông - nhà thơ Ly Tao và Hùng tráng - với V. Hugo” (tr.488, cuốn Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam 1900-1945 - NXB Văn Học 1997). Theo logic của Lại Nguyên Ân thì chính là Lê Tràng Kiều đã “đạo văn của Hán Quỳ” vậy!

Thời hoàng kim của Thơ Mới - năm 1936 ấy - những từ “mơ màng”, “huyền diệu”, “buồn não”, “ảo não”, “mộng ảo”, “trong sáng”, “thiết tha”, “rạo rực”, “băn khoăn”... tràn ngập trên báo chí trong các bài bình thơ, đâu phải bản quyền của Lê Tràng Kiều, bất kỳ ai dùng cũng được, huống hồ lại là Hoài Thanh. Để nói về các nhà văn xuôi, báo chí thời đó thịnh hành lối dùng trạng từ, hoặc tính từ để chỉ nhà văn này khác nhà văn kia, ví dụ báo thời đó hay viết: tả chân như Vũ Trọng Phụng, hoài cổ như Lưu Trọng Lư, lãng mạn như Vũ Bằng, mơ màng như Thạch Lam, bay bướm như Nguyễn Tuân, say mê như Khái Hưng... Chính Hoài Thanh cũng hay viết lối này, ví dụ như ở trang 45 cuốn Thi Nhân Việt Nam, ông viết rất hay như sau: “Ta thoát lên Tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu” (Thi nhân Việt Nam - NXB Hoa Tiên, Sài Gòn 1967). Lối nói của Lê Tràng Kiều hay Hoài Thanh trên cũng chỉ là cái cách ví von, so sánh của thời ấy, đâu phải là ai “đạo” của ai! Khi Hoài Thanh viết: “rộng mở như Thế Lữ” thì đã rất khác với khi Lê Tràng Kiều viết “dồi dào như Thế Lữ”. Chẳng lẽ, Lại Nguyên Ân lại không phân biệt được từ “rộng mở” rất khác với từ “dồi dào” hay sao? Khi Lê Tràng Kiều viết “buồn não như Nguyễn Vỹ” là chưa đúng với chất ngông ngạo, chửi đời của tác giả Gửi Trương Tửu. Nhưng khi Hoài Thanh viết “ảo não như Huy Cận” thì đúng là đã gọi được chất Lửa thiêng ra vậy. Khi Hoài Thanh bảo “mơ màng như Lưu Trọng Lư” thì rất khác với nhận xét của Lê Tràng Kiều: “Và một tâm hồn đầy âm nhạc, đầy mộng ảnh như Lưu Trọng Lư?”. Ngoài những cái khác nêu trên, câu văn của Lê Tràng Kiều nói về Đông Hồ, Thái Can, Leiba, còn câu văn của Hoài Thanh lại nói về Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Nguyễn Nhược Pháp, Xuân Diệu... quả là khác nhau rõ như ban ngày, mà sao Lại Nguyên Ân lại nhìn ra là ông nọ “đạo văn” của ông kia, thì quả tình Lại tiên sinh đã “trông gà hóa cuốc” mất rồi!

Một cái khác nhau căn bản giữa hai câu văn của Lê Tràng Kiều và Hoài Thanh dẫn trên là ở đoạn đầu: Lê Tràng Kiều đã đưa ra một kết luận thiếu khoa học, chưa đúng, vì dám đem Thơ Mới ra mà phủ nhận thời hoàng kim thi ca của dân tộc cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 (từng xuất hiện các thiên tài thơ Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Công Trứ...) như sau: “Chỉ trong vòng 3 năm mà lần lượt đua nhau xuất hiện ra không biết bao nhiêu tác phẩm có giá trị mà trong cái dĩ vãng rất bằng phẳng mấy ngàn năm chỉ lơ thơ một vài cái”. Trong khi Hoài Thanh kết luận rất khác với Lê Tràng Kiều, nghĩa là chừng mực và đúng đắn hơn khi nói về Thơ Mới so với thi ca người xưa: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này”. Một cái rất khác nữa của hai câu văn trên là đoạn cuối, Lê Tràng Kiều còn tiếp tục cực đoan: “Ba năm... mà như một thế kỷ đã qua”. Nói tóm lại, hai câu văn của Lê Tràng Kiều và Hoài Thanh khác hẳn nhau về nhận định, khái quát và về nhận xét các thi sĩ cụ thể, chỉ trùng cụm từ “hùng tráng như Huy Thông”. Mà tính chất “hùng tráng” của Huy Thông thì Hán Quỳ đã có “chủ quyền” trước Lê Tràng Kiều như chúng tôi đã chỉ ra. Khi một bản anh hùng ca (tráng ca) được ai đó gọi là “hùng tráng” thì người này chẳng có công sáng tạo gì, bởi đó là tính chất của thể loại đó mà thôi.

Mặt khác, nếu Hoài Thanh có “tà tâm” đạo văn của Lê Tràng Kiều, thì ông phải giấu đi, chứ sao lại khai ra trong bài Một thời đại trong thi ca mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam “tố cáo” cái nguồn gốc “đạo văn” của mình, như sau: “Ô. Lê Tràng Kiều viết 8 bài ca tụng các nhà Thơ Mới để trả lời Ô. Tùng Lâm và Ô. Thái Phỉ” (Thi nhân Việt Nam - Hoài Thanh, NXB Hoa Tiên, Sài Gòn 1967, tr.20). Ngay sau đó, Hoài Thanh còn ghi chú hai nhỏ (2), kiểu “lạy ông tôi ở bụi này”, để hậu sinh Lại Nguyên Ân dễ truy tìm mà “vạch lá tìm sâu”, như sau: “Đăng ở “Văn học tạp chí” 1935 và Hà Nội báo 1936”.

Hoài Thanh là một nhà trí thức lớn, một nhà giáo có uy tín, một nhà cách mạng từng vào tù ra khám rồi bị an trí tại Huế, một trong những nhà phê bình số một Việt Nam được lịch sử văn học gọi là thiên tài; một người từng viết giúp cho hai bạn Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư cả một cuốn sách lớn về tư tưởng xã hội và tư tưởng học thuật là cuốn Văn chương và hành động để cả ba cùng đứng tên (bị Pháp tịch thu năm 1936); một người viết ra kiệt tác Thi nhân Việt Nam lại sẵn lòng để cho Hoài Chân là người từng giúp ông sưu tầm các bài thơ đứng tên đồng tác giả... Một người như thế lẽ nào lại thèm đi “đạo” dăm ba chữ của bạn mình để đến nỗi bị hậu thế Lại Nguyên Ân cho là “đạo văn”?

Qua những so sánh và phân tích trên của chúng tôi, bạn đọc chắc hẳn đã thấy Hoài Thanh, qua bài viết “trông gà hóa cuốc” của Lại Nguyên Ân đã bị đổ tiếng oan! Nhưng than ôi, cỏ gà cỏ gấu dù lấn sân đến đâu, sức mấy che khuất được đại thụ!?

Thế Giới Mới, số 604 (27/9/2004)

Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Email cho bạn bè
 
 
Giọng điệu châm biếm, hài hước và phong cách "khẩu văn" - viết như nói - giúp Nguyễn Quang Lập rút ngắn khoảng cách giữa độc giả và tác giả.
Con người ta cần phải biết học cách đối mặt với cái chết, và làm nhiều điều ý nghĩa hơn cho cuộc sống, cho cộng đồng trước khi nhắm mắt xuôi tay.