Thứ bảy, 4/2/2006 | 09:02 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ | Print
Thứ bảy, 4/2/2006 | 09:02 GMT+7

Dịch giả Tôn Nhan và những bản dịch Hán ngữ

Cuốn "Nho giáo Trung Quốc" khổ lớn, dày hơn 1.600 trang do Nguyễn Tôn Nhan dịch vừa được Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Văn hóa Thời Đại phối hợp với Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành trước thềm năm mới Bính Tuất. Đây là một nỗ lực tự thân nhằm khẳng định mình của dịch giả Tôn Nhan.

Vu Gia

Dịch giả Tôn Nhan.

Dịch giả Tôn Nhan.

"Thì thôi mất hẳn em rồi/ Tần ngần nhân loại bồi hồi ngàn sau" - mạch thơ này của Nguyễn Tôn Nhan, tôi biết từ những ngày trước giải phóng (1975). Ngày ấy, thơ anh xuất hiện khá thường xuyên trên Thời tập. Nhưng khi gặp nhau, tôi không tin những vần thơ ấy lại dành cho lứa tuổi đôi mươi đầy hoa mộng như chúng tôi, trong đó có anh. Nhớ lại, sau giải phóng một thời gian, được sự “cưu mang” của anh Nguyễn Khắc Vỹ (Ba Khanh), chúng tôi tụ về quận 4. Lúc ấy, chuyện văn chương đối với chúng tôi chỉ là chuyện vui cho qua ngày, chẳng ai nghĩ, đúng hơn là dám nghĩ mình sẽ được ngồi vào chiếc chiếu văn chương, nhất là chiếc chiếu của những nhà văn cách mạng. Chu Vương Miện sống thêm bằng nghề bán sách cũ, Trần Dzạ Lữ làm thêm nghề đồng nát, Nguyễn Đạt làm thêm nghề... thợ mộc ngang hông, Nguyễn Tôn Nhan và ba đứa con nhỏ sống dựa vào chiếc máy khâu của vợ.

Thời gian sau, nghe anh “khoe” được chỗ dạy kèm chữ Hán. Hỏi ra, chữ Hán của anh bước đầu như bao học sinh trung học khác. Nhưng có một lần, anh thấy bố viết chữ “Kỳ” dường như... không đúng, anh bèn lôi sách ra đọc. Càng đọc và chú ý học thứ chữ lắm bộ, nhiều nét này anh thấy thích thú. Sáu tháng tự học từ nền tảng cơ bản của nhà trường, anh đọc được Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Từ đó, anh cần mẫn hơn trong việc đọc, học, nghĩ về văn hóa, văn học chữ Hán và... viết.

Trước đổi mới, in được một bài thơ, một truyện ngắn trên báo đã khó huống gì in được cuốn sách. Sau năm 1986, đất nước đổi mới, các nhà xuất bản mọc lên như nấm gặp mưa. Nhà nhà làm sách, người người làm sách. Từ loại tiểu thuyết ba xu cho đến truyện kiếm hiệp được đội cái mũ mới: tiểu thuyết tâm lý xã hội, truyện dã sử, lịch sử... ra ào ào. Công bằng mà nói, bên cạnh cái xô bồ ấy, nhiều tác phẩm có giá trị được in lại, như: Minh tâm bửu giám của Trương Vĩnh Ký, Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ... Người viết lúc ấy không phải đến cầu cạnh nhà xuất bản, trái lại nhà xuất bản (đại diện là những tư nhân bỏ tiền làm sách) đến tận nhà mua bản thảo, ứng trước tiền để có bản thảo sớm nhất.

Nguyễn Tôn Nhan, sinh năm 1947, tại Cẩm Giàng, Hải Dương, trưởng thành ở đất Sài Gòn - Gia Định. Những tác phẩm chính: Từ điển Thành ngữ điển tích Trung Quốc (NXB VHTT, 1999), Từ điển Văn học cổ điển Trung Quốc (NXB Văn nghệ TP HCM, 1999), Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng (NXB TP HCM, 2001), Bách khoa thư Văn hóa cổ điển Trung Quốc (NXB VHTT, 2002).

Khi Nhà nước sắp xếp lại công tác xuất bản, sự khổ học của ngày nào đã đem về cho Nguyễn Tôn Nhan cả danh lẫn lợi. Đọc những bản dịch của anh, tôi luôn thấy anh tiệm cận được với “tín” (tin thực) và “đạt” (thông thấu tới nơi), có những trang, những đoạn đã vươn tới “nhã” (tao nhã). Chính nhờ vậy mà những bản dịch của anh luôn có người đọc. Các tư nhân làm sách (nay đều được phép lập công ty) sẵn sàng ký hợp đồng và ứng tiền hằng tháng để anh dịch những gì anh thích. Cụ thể, tháng 11/2005, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Văn hóa Gia Vũ, ký hợp đồng với anh dịch bộ Hoài Nam Tử (2.000 trang, khổ 14,5 x 20,5 cm; giá 50.000 đồng/trang; mỗi tháng ứng cho dịch giả 5 triệu đồng. Cuối tháng 12/2006, hoàn thành bản thảo, nhận tiếp phần tiền còn lại). Đây là tập đại thành tư tưởng thời tiên Tần (Trung Hoa).

Tâm sự về công việc dịch thuật, Nguyễn Tôn Nhan cho biết, tiếp tục học, tiếp tục nghĩ để có những bản dịch thật tốt trong khả năng cho phép. Anh nói: “Đọc những bản dịch của Nhượng Tống, Đào Duy Anh... phải bái phục các cụ, ông ạ. Tôi cho rằng, bản dịch Ly Tao, Tây sương ký của Nhượng Tống, hoặc bản dịch Sở từ của Đào Duy Anh là những bản dịch mẫu mực. Đọc tới đọc lui, tôi thấy các cụ sao mà uyên bác đến thế, tài hoa đến thế”... Thấy nụ cười của tôi, chắc anh ngại tôi cà khịa như “bản tính trời sinh”, nên cười nói tiếp: “Phục các cụ để tìm cách khắc phục, để dặn lòng phải cố gắng hơn nữa, chứ không phải làm lấy được rồi đổ thừa vì các cụ uyên bác quá, lấy các cụ làm thước đo thì hậu sinh làm sao sánh bằng”.

(Nguồn: Người lao động

Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Email cho bạn bè
 
 
Thành phố nằm nghiêng cong queo những ảo hình/ Kỷ niệm nằm nghiêng mơ người đánh thức...